Thi Ca Yêu Nước: Thơ và Phú của Nguyễn Lê

TCYN 195 –  Thơ Phú Nguyễn Lê

Nguyễn Lê, một nhà thơ quê hương từ miền sông nước Hậu Giang. Một người đã yêu thơ từ khi còn nhỏ, như chính tác giả đã thổ lộ trong phần giới thiệu Tuyển Tập Thơ-Phú về Quê Hương, Tình Yêu và Thân Phận của tác giả, xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2017 như sau:

Còn nhớ, hơn nửa thế kỷ trước, lúc còn mài đũng quần trên ghế trường tiểu học, người viết bắt đầu tập tễnh làm thơ. Mỗi dịp hè, mỗi kỳ nghỉ Tết là những cơ hội bằng vàng để người viết lục lạo, ghi chép những bài thơ đủ thể loại của vô số thi sĩ nằm chật ních ở tủ sách của mấy ông anh trong gia đình. Sau đó, chúng được mang ra vựa củi ở cuối vườn để nhâm nhi, tra cứu đến độ bỏ ngủ, quên ăn”.

Mặc dầu yêu thơ say sưa đến quên ăn quên ngủ, nhưng cuộc đời lại đưa đẩy Nguyễn Lê vào những ngả đường khác, từ việc xuất ngoại du học, trở về phục vụ trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tù tội nhiều năm trong các trại tù của CS sau khi Miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm. Được thả, rồi tìm đường vượt biên, đến được đất tự do, thì hồn thơ mới sống dậy. Ta hãy nghe tác giả tâm sự:

Năm 1983, sau những năm tháng tù tội và một lần vượt biên đến Trại Tỵ Nạn Galant, Nam-Dương, người viết may mắn gặp lại ông thầy dạy Việt văn ở Việt-Nam. Đang đảm trách thư viện nhỏ của Trại, cụ đã cho thằng học trò cũ một công việc (tiền lương đủ ăn sáng) là phụ giúp lặt vặt, quét dọn và xếp lại toàn bộ sách vở, tài liệu theo thứ tự hướng dẫn của cụ. Ngoài công tác cộng đồng, công việc này chiếm hầu hết thì giờ trong gần nửa năm trời trước khi được phái đoàn Di-Trú Hoa-Kỳ nhận, người viết có cơ may dán mắt vào những trang sách thi văn của Việt-Nam thời cổ. Niềm mơ ước ngày nào trên lãnh vực sáng tác lại bừng bừng nổi dậy ở mức độ bỏ ngủ, quên ăn. Và lần này, hấp dẫn nhất nhưng cũng phức tạp, nặng nề nhất lại là lãnh vực phú. Người viết chỉ còn biết ôm đầu mê mẩn lòn lách trong rừng luật lệ, chữ nghĩa của tiền nhân mà suy nghiệm và học hỏi.

Như ta vừa nghe tác giả chia sẻ, Nguyễn Lê mê thơ, nhưng ông đặc biệt quan tâm tới phú – Thơ-Phú.  Phú là một thể loại văn chương cổ trong văn học nước ta, đã có từ xa xưa, như bài “Cư trần lạc đạo phú” và “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca”của vua Trần Nhân Tông, soạn bằng chữ Nôm.  Bài “Ngọc tỉnh liên phú” của Mạc Đĩnh Chi và “Bạch Đằng Giang phú” của Trương Hán Siêu. Gần hơn có bài Tài Tử Đa Cùng Phú của Cao Bá Quát, hay Phú Thầy Đồ của Tú Xương. Ngày nay phú là thể văn còn dùng để làm các bài văn tế. Trong tuyển tập Thơ Phú của Nguyễn Lê, ông đã sáng tác 3 bài phú. Chúng tôi sẽ giới thiệu với quí thinh giả sau.

Thơ Nguyễn Lê cũng xoay quanh ba chủ đề lớn là Quê Hương, Tình Yêu và Thân Phận con người; nhưng thơ Nguyễn Lê có những nét độc đáo, khó tìm được ở những thi sĩ khác, trước hết tác giả dùng đến những từ ngữ đặc thù địa phương của vùng việt vườn sông nước ở Miền Nam. Như chữ Rông là tiếng chỉ con nước vào đầu và giữa tháng Âm Lịch, hay buồng dừa Xiêm, quày chuối Dà Hương, những sản phẩm đống quê rất quen thuộc. Nét đặc biết thứ hai là tác giả nhân cách hóa, gọi quê hương bằng tiếng em ngọt ngào, theo sau là những từ ngữ mô tả nét đẹp, nét quyến rũ của quê hương. Mở đầu tập thơ, ta hãy nghe bài Chính Em, tác giả sáng tác ngày 10 tháng 3, 2005.

Em là con nước Rông  đầu hạ

Em là bóng trăng thu đêm rằm

Em dìu dặt lá xanh đồng mạ

Em Én về ríu rít chào xuân

 

Em chùm quit chùm cam mời gọi

Em buồng dừa Xiêm nạo sai oằn

Em quày chuối Dà-Hương chín bói

Em vườn mít vườn dâu xanh um

 

Em hoàng hôn mưa qua xóm vắng

Em nhạc Dế non nỉ canh trường

Em đèn Chong cô đơn thức trắng

Em giọng Cuốc buồn trong hơi sương

 

Em chiều đông âm u rét mướt

Em mẹ hát ru giấc “ơi à”

Em tình Ngưu chờ duyên Ô-Thước

Em ngậm ngùi Chức-Nữ trời xa

 

Em lời kinh giáo đường chiều xuống

Em mục tử lùa trâu trên đồng

Em thôn nữ thẹn thùa nghiêng nón

Em hồi mõ hồi chuông Thu-Không

 

Em bình minh chói chang ruộng lúa

Em dòng nước phù sa ngọt ngào

Em đường quê vi vu hương gió

Em đêm dài lấp lánh ngàn sao

 

Là đất là người là núi là sông

Là gấm là hoa là nhớ là thương

Em chính là Quê Hương

Em chính là Quê Hương!

 

Quê tác giả thuộc Cái Mơn, một địa danh quen thuộc với lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Trong bài thơ Nguyễn Lê viết năm 1961 về Cái Mơn, có lẽ lúc ấy tác giả ở nơi nào đó rất xa quê quán, ông không mô tả cảnh trí quê hương mình, mà chỉ diễn tả nỗi lòng thương nhớ như phải xa lìa ngươi yêu muôn thuở. Ở đây người yêu và quê hương lúc ẩn lúc hiện tựa một giấc chiêm bao, nửa hư nửa thật, còn tác giả như một chàng giang hồ phiêu bạt bốn phương, ngày về thì vô định:

Trôi nổi kiếp phong sương

Mang theo bóng Quê Hương

Mang cả niềm tâm sự

Trong quang gánh đoạn trường!

 

 

CÁI-MƠN

CÁI-MƠN

Ai dừng đây một thuở

Chuyện đường xa áo giang hồ rũ bỏ

Vì mộng mị hão huyền

Say tìm giấc mơ duyên

Vào cuộc tình non dại

Đời chưa biết bạc đen

 

 Đêm nghe gió rú ngoài hiên

Ai còn thao thức ai còn ủ ê

Sao rơi sương lạnh bốn bề

Thư đi thì có thư về thì không

 

CÁI-MƠN

CÁI-MƠN

Ai nhắc làm chi nữa

Ngậm ngùi đi tình xưa còn chan chứa

Vô định một ngày về

Mây chiều vương lê thê

Sầu chinh lòng lữ khách

 

Lý tưởng ôi đam mê

Cuộc đời giăng bụi bên lề

Tới lui lui tới não nề thân trai

Đêm buồn sao vỡ trăng cài

Dáng xưa người cũ tháng ngày phôi pha

 

CÁI-MƠN

CÁI-MƠN

Ai ngâm câu vĩnh biệt

Trót lìa xa thôi thôi đừng tha thiết

            Dang dở trọn cung đàn

Người ơi hãy sang ngang

Cho tình ta muôn thuở

Vùi chôn nắm mộ tàn

 

Nắng rơi chang chói trên ngàn

Hồn chưa qua hết đông hàn tiêu sơ

Trùng dương thăm thẳm vô bờ

Lãng quên dĩ vãng hững hờ tương lai

 

CÁI-MƠN

CÁI-MƠN

Ai có còn lưu luyến

 

Mùa mưa qua qua rồi chùng tơ phím

Trôi nổi kiếp phong sương

Mang theo bóng Quê Hương

Mang cả niềm tâm sự

Trong quang gánh đoạn trường!

HS, MN, BC vá KA xin hẹn quí thính giả trong TCYN lấn tới.

Khôi Anh

You May Also Like