DANH NHÂN NƯỚC VIỆT: Sử Gia Phan Phu Tiên

Kính thưa quý thính giả, một nhà trí thức có tấm lòng yêu nước, nêu cao truyền thống hiếu học và trọng nghĩa tình. Ông cũng là một nhà sử học, một nhà nghiên cứu văn học và là nhà giáo nổi tiếng, có công biên soạn cuốn Việt Âm thi tập và Đại Việt sử ký tục biên. Qua chuyên mục Danh Nhân Nước Việt tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài “Sử Gia Phan Phu Tiên” của Việt Thái qua giọng đọc của Minh Nguyệt để kết thúc chương trình phát thanh tối hôm nay.

Sử Gia Phan Phu Tiên
Việt Thái

Sử gia Phan Phu Tiên tên là Phan Phù Tiên, tự Tín Thần, hiệu là Mạc Hiên, sinh vào cuối thời nhà Trần tại làng Vẽ, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Thuở nhỏ, ông nổi tiếng là người thông minh, hiếu học.
Ông đỗ Thái học sinh tại khoa thi cuối cùng của nhà Trần tổ chức ở Thăng Long vào năm 1396, được vào làm việc ở Quốc Sử Viện và Quốc Tử Giám, 2 cơ quan nghiên cứu học thuật và đào tạo nhân tài quan trọng bậc nhất thời bấy giờ.
Sau suốt một thời gian trên 1/4 thế kỷ, kể từ cuối thập niên 1390 cho đến năm 1429, ông mới dự thi khoa Minh Kinh dưới thời Lê Thái Tổ.
Tình hình nước Việt lúc đó đang trải qua những cơn biến động. Trong thời gian giữ chức Đồng Tu Sử ở Quốc Sử Viện, ông bắt tay vào biên soạn bộ Việt âm Thi tập, công trình mở đầu việc nghiên cứu, giới thiệu thi ca các đời ở Việt Nam. Niềm tự hào về truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc, lòng trân quý đối với di sản tinh thần của các bậc tiền nhân và nhận thức sâu sắc về vai trò của văn chương nghệ thuật, đã thúc đẩy ông vượt qua mọi khó khăn, ra sức hoàn thành công trình có ý nghĩa lớn lao này.
Mùa thu năm 1433, bộ hợp tuyển Việt Âm thi tập đã hoàn thành phần căn bản. Ông viết lời tựa với những lời tâm huyết như sau: “Trong lòng có chí hướng ắt sẽ thể hiện thành lời. Vì vậy, thơ là để nói lên cái chí của mình… Các bậc đế vương, công khanh, sĩ phu mấy đời gần đây, chẳng ai không quan tâm đến học thuật, vẫn thường sớm tối ngâm vịnh, diễn tả nỗi lòng sâu kín, đều có thi tập lưu hành ở đời nhưng do binh lửa nên đã thất truyền, tiếc thay!… Các bậc quân tử sau này có lòng sưu tầm rộng khắp, rồi xếp đặt thành quyển, thành tập, mới mong khỏi phải thở than vì bỏ sót mất hạt châu trong biển cả”.
Sách chưa kịp khắc in thì ông được cử giữ chức An Phủ Sứ ở Thiên Trường, Hoan Châu. Bộ Việt Âm thi tập được Ngự sử Chu Xa biên soạn tiếp. Sau hơn 10 năm sưu tầm, chỉnh lý, sắp xếp, bản thảo Tân tuyển Việt Âm thi tập do Chu Xa biên tập đã hoàn thành vào năm 1459, được Hàn lâm Học sĩ Lý Tử Tấn hiệu chỉnh và khắc in.
Theo bài tựa của Lý Tử Tấn thì Tân tuyển Việt Âm thi tập thu thập được hơn 700 bài thơ (sắp xếp thành 7 quyển). Bản in lần đầu đã thất tán, hiện nay chỉ còn 3 quyển đầu của lần tái bản vào năm 1729.
Năm 1448, An Phủ Sứ Phan Phu Tiên được triệu về kinh, sung chức Quốc Tử Giám Bác Sĩ Tri Quốc Sử Viện, vừa giảng dạy ở Quốc Tử Giám vừa trông coi Viện Quốc Sử.
Năm 1455, vâng lệnh vua, ông bắt tay vào biên soạn bộ Đại Việt sử ký tục biên (nối tiếp theo Đại Việt sử ký của sử gia Lê Văn Hưu), chép việc từ đời Trần Thái Tông cho đến khi quân Minh rút về nước (từ năm 1226 đến năm 1427), gồm 10 quyển.
Đại Việt sử ký tục biên hiện nay đã không còn, nhưng Ngô Sĩ Liên dựa vào bộ sử này để biên soạn những phần có liên quan vào trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Ngoài Việt Âm thi tập, Đại Việt sử ký tục biên, ông còn viết Quốc Triều luật lệnh, Bản thảo Thực vật toản yếu, cũng đều thất truyền. Toàn Việt thi lục do Học giả Lê Quý Đôn biên soạn có chép 3 bài thơ của ông: Vi nhân cầu giáo, Hạ gián nghị đại phu Nguyễn Ức Trai, Đương đạo Lương Phán quan nhậm mãn, với lời thơ bình dị nhưng chứa đựng nhiều ý tưởng sâu sắc, nêu cao truyền thống hiếu học, trọng nghĩa tình, chăm lo việc dân, việc nước của nho sĩ Việt.
Khi qua đời, sử gia Phan Phu Tiên được nhiều nơi thờ phượng. Đặc biệt ở làng Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, người dân trong vùng lập Từ đường, đặt tượng ông ở trước cửa chính giữa khuôn viên, bên trong có bàn thờ ông với bức hoành phi 3 chữ Khai Tất Tiêu và 2 câu đối:
“Lưỡng chúng đăng long, Đông Ngạc khai hoa dương trí tuệ.
Tam biên chứ tác, thủy tổ Phan gia quốc hoàng ân”.
Có nghĩa là:
Hai lần đỗ tiến sĩ đầu tiên cho làng Đông Ngạc.
Ba lần theo lệnh vua viết cho đời của tổ họ Phan.
* * *
Sử gia Phan Phu Tiên là nhà giáo có ý thức trong việc tu sửa bản thân và giáo dục đời sau, ông đã làm bài thơ “Ấu nhi học, trang nhi hành” là một trong 3 bài được học giả Lê Quý Đôn tuyển chọn để chép trong Toàn Việt thi lục.
Ông là người có công lớn trong việc soạn thảo quốc sử đầu thời Lê, đồng thời cũng là người khởi đầu cho việc biên soạn Việt Âm thi tập, là bộ hợp tuyển thơ văn đầu tiên của nước Việt.
Ông nối chí Lê Văn Hưu, dọn đường cho sử gia Ngô Sĩ Liên hoàn thành bộ Đại Việt sử ký toàn thư sau này.
Điều đáng nói là bối cảnh xã hội VN thời nhà Lê lúc đó còn trong thời kỳ biến động, nhưng vẫn xuất hiện nhiều sĩ phu có khí tiết, biết quan tâm đến vận mệnh đất nước, dấn thân để cứu dân ra khỏi cảnh lầm than. Hiện nay, VN cũng có nhiều sĩ phu yêu nước chấp nhận bước vào con đường đấu tranh, bất chấp sự đàn áp dã man của bạo quyền cộng sản. Thế nhưng đến nay, vẫn còn nhiều sử gia vô liêm sĩ, bẻ cong ngòi bút để xuyên tạc lịch sử theo lệnh của đảng CSVN và bọn Tàu cộng, dẫn đến hậu quả thê thảm là các thế hệ học sinh Việt Nam ngày nay gần như “mù tịt về môn sử Việt”. Đây là điều ô nhục trong sử Việt, việc làm của đảng CSVN sẽ bị dân tộc Việt nguyền rủa đến ngàn đời sau!

You May Also Like

Leave a Reply