DANH NHÂN NƯỚC VIỆT: Danh Tướng Phạm Bạch Hổ

Kính thưa quý thính giả, sử sách ghi lại hơn một ngàn năm trước, nước Việt không thiếu các vị tướng có thừa dũng lực công thành, phá ải. Đặc biệt nhất có một vị tướng quân dù đã 79 tuổi, vẫn xin vua cho mình ra chiến trường đánh đuổi quân Bắc Tống… Qua chuyên mục Danh Nhân Nước Việt tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài “Danh Tướng Phạm Bạch Hổ” của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh&Minh Nguyệt để kết thúc chương trình phát thanh tối hôm nay.

Danh tướng Phạm Bạch Hổ
Việt Thái
“Bá chủ hùng đồ, thập nhị sơn hà dư cổ luỹ,
Thần cao linh khí, bán phân tinh vũ thử tiền giang.”
Đó là hai câu đối ca ngợi danh tướng Phạm Bạch Hổ trong đền Đằng Châu.
Tạm dịch là:
Anh hùng, làm chủ trong mười hai vùng sông núi,
Hiển hiện linh thiêng, phân mưa nắng trên sông tiền.
Phạm Bạch Hổ sinh ngày 10 tháng Giêng năm Canh Ngọ (910), tại Đằng Châu, xã Ngọc Đường, nay thuộc thôn Đằng Châu, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên. Ông nội là Phạm Chí Dũng vốn là Hồng châu tướng quân. Anh trai Phạm Man là Tham chính Đô đốc đời Nam Tấn vương Ngô Xương Văn. Các cháu Phạm Hạp và Phạm Cự Lạng đều là các tướng giỏi thời nhà Đinh, được người đời sau ca tụng là “Giao Châu thất hùng”.
Từ nhỏ Phạm Bạch Hổ đã nổi tiếng thông minh, học giỏi, có sức khoẻ hơn người, tính tình cương trực thẳng thắn. Lớn lên, ông làm Hào trưởng đất Đằng Châu, theo giúp Dương Đình Nghệ.
Năm 931, ông giúp chủ tướng đánh đuổi Lý Tiến, thứ sử Giao Châu, và sau đó đánh bại đạo quân của tướng Trần Bảo, được nhà Nam Hán cử sang cứu viện. Khi Dương Đình Nghệ xưng Tiết độ sứ, ông được phong tướng.
Năm 937, Phạm Bạch Hổ đem 1.000 quân đến hợp binh với Ngô Quyền tại thành Gia Viễn, ông được Ngô Quyền tin yêu, giao nắm binh quyền. Chính ông có công lớn trong việc bảo vệ vương triều nhà Ngô.
Khi Kiều Công Tiễn phản bội, giết Dương Đình Nghệ là cha vợ của Ngô Quyền, Phạm Bạch Hổ điều 5000 quân đến thành Đại La, tấn công tiêu diệt Kiều Công Tiễn.
Phạm Bạch Hổ đã phò tá chủ tướng Ngô Quyền trong chiến thắng năm Mậu Tuất (938), đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ cho dân tộc sau gần 1000 năm Bắc thuộc.
Năm 944, khi Ngô Vương mất, Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền) cướp ngôi, Phạm Bạch Hổ đã giúp Ngô Xương Văn (con trai của Ngô Quyền) đoạt lại ngôi vị, lấy đế hiệu là Hậu Ngô Vương.
Khi triều Ngô suy tàn, ông đón Ngô Xương Văn về quê hương của mình ở đất Đằng Châu.
Năm 965, khi Hậu Ngô Vương mất, các hào kiệt nổi lên khắp nơi, Phạm Bạch Hổ là một trong 12 sứ quân, cai quản Đằng Châu, trấn giữ vùng cửa biển sông Hồng, một vùng đất rộng lớn và là cửa ngõ quan trọng của thành Đại La. Khi Đinh Bộ Lĩnh được sứ quân Trần Lãm giao toàn bộ binh quyền, liền mang quân dọn dẹp “12 sứ quân”, Phạm Bạch Hổ đưa quân về Hoa Lư gia nhập đoàn quân của Đinh Bộ Lĩnh, và được phong làm Thân vệ Đại tướng quân vào đầu năm 966.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong “12 sứ quân”, lên ngôi ở kinh đô Hoa Lư, xưng là Đinh Tiên Hoàng. Khi vua Đinh bị hại, thiếu đế nhà Đinh còn nhỏ tuổi, nhà Tống lại lăm le xâm lược, tướng sĩ đã tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, tức vua Lê Đại Hành. Thân vệ đại tướng quân Phạm Bạch Hổ lúc bấy giờ tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn tâu với vua xin được ra chiến trường.
Vua Lê Đại Hành can ngăn, nhưng Phạm Bạch Hổ khẳng khái tuyên bố: “Thần lúc tráng niên theo tiền Ngô Vương đánh giặc Nam Hán có chút công lao, nay tuy tuổi cao, nhưng mỗi bữa còn ăn hết vài đấu gạo, rong ruổi trên lưng ngựa cả ngày không mệt, gân cốt còn mạnh thì sợ gì quân Bắc Tống”. Vua khen ông có dũng khí, phong làm Bình Tống đô liệu lương quan, mang quân ra vùng Thiên Bản lo việc quân lương.
Ngày 16 tháng 11 năm Nhâm Thân (972), Phạm Bạch Hổ mất tại quê nhà, thọ 62 tuổi.
Các triều đại về sau đều phong ông là “Khai thiên hộ quốc tối linh thần” và lập đền thờ phượng ở nhiều nơi, lớn nhất là đền Mây thuộc thôn Đằng Châu, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên. Ngôi đền Mây nổi tiếng với câu ca: “Trăm cảnh nghìn cảnh, không bằng bến Lảnh, đò Mây”. Đền này được xây dựng vào thời Đinh – Tiền Lê và được trùng tu vào thời nhà Nguyễn. Ngôi đền có nhiều giá trị văn hóa còn lưu giữ đến ngày nay với 27 pho tượng cổ thời Hậu Lê thờ bên trong.

Có thể nói, cuộc đời Phạm Bạch Hổ là một thí dụ điển hình để đả phá quan niệm “trung thần bất sự nhị quân”, thường được dùng để vinh danh các bậc “tôi trung”. Phạm Bạch Hổ không chỉ thờ “hai vua”, mà là tận tụy phò tá liên tiếp 3 vị minh quân sáng lập 3 triều đại là Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn. Ông đã góp sức mình vào cuộc chiến giành lại nền tự chủ cho dân tộc thời đức Ngô Vương, sau đó đầu quân cho Đinh Bộ Lĩnh để chấm dứt cuộc nội loạn và mặc dù đã lớn tuổi, ông vẫn cống hiến hết sức mình trong cuộc chiến đấu chống giặc Tống xâm lược thời vua Lê Đại Hành.
Điều đáng nói, mặc dù cũng là một trong 12 sứ quân, nhưng ông sẵn sàng đứng dưới cờ sứ quân Đinh Bộ Lĩnh trẻ tuổi hơn mình, chỉ với mục đích duy nhất là chấm dứt sự hỗn loạn của đất nước, mang lại sự thanh bình cho đất nước. Chỉ bằng điểm này, tướng quân Phạm Bạch Hổ rất xứng đáng để được hậu thế ca tụng.
Hơn một ngàn năm trước, đất nước rối ren, nhưng may mắn xuất hiện hàng loạt minh quân và hào kiệt như đức Ngô Quyền và Phạm Bạch Hổ có tâm nguyện “cứu quốc an dân”. Thế nhưng, trong thời điểm “Tổ quốc lâm nguy” hiện nay, tình hình VN còn đen tối hơn thời 12 sứ quân, mà chỉ thấy tập đoàn cộng sản luôn “hèn với giặc, ác với dân”, dâng hiến đất nước cho Tàu Cộng, để đổi lấy vinh hoa phú quý và bất chấp các thảm họa môi trường đang gây nguy hại cho đồng bào. Không biết là có bao nhiêu người trong số 4 triệu đảng viên cộng sản, còn nhớ được câu thành ngữ “quốc phá gia vong” của các bậc tiền nhân?

You May Also Like