DANH NHÂN NƯỚC VIỆT: Dũng Tướng Tôn Đản

Kính thưa quý thính giả, sử sách ghi lại gần một ngàn năm trước, nước Việt có một dũng tướng theo đức Lý Thường Kiệt tiến quân vào nước Tống tấn công Châu Ung, Châu Khâm và Châu Liêm. Quân nhà Tống phải bỏ chạy và không dám đuổi theo khi quân Đại Việt rút về nước. … Qua chuyên mục Danh Nhân Nước Việt tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài “Dũng Tướng Tôn Đản” của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh để kết thúc chương trình phát thanh tối hôm nay.

Dũng Tướng Tôn Đản
Việt Thái

Tôn Đản tên thật là Nùng Tôn Đản sinh năm 1046 tại tổng Kim Pha, Châu Quảng Nguyên thuộc đạo Thái Nguyên (nay là Nà Cạn, phường Sông Bằng, thị xã Cao Bằng). Cha ông là Nùng Tồn Thương làm Châu mục Châu Quảng Nguyên, là người có công giúp nhà Lý bình định vùng biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn.
Tôn Đản là một trong những tù trưởng nổi tiếng giỏi võ, được đức Lý Thường Kiệt trọng dụng giao chỉ huy đoàn quân thiện chiến.
Năm 1072, vua Lý Thánh Tông băng hà, vua Lý Nhân Tông mới 6 tuổi lên nối ngôi. Nhà Tống cho rằng đây là một cơ hội tốt nên chuẩn bị xâm lăng Đại Việt.
Lúc bấy giờ, Vương An Thạch lên nắm quyền Tể tướng nhà Tống, có ý lập công ở ngoài biên giới. Quan giữ chức Tri châu của Châu Ung là Tiêu Chú đón biết ý định của Vương An Thạch, liền dâng thư nói rằng, Giao Châu tuy đã giữ đúng lệ triều cống nhưng thực ra thì không phục, nếu không đánh chiếm thì sau này sẽ mang họa.
Vua nhà Tống tin lời, bèn xuống chiếu cho Trầm Khởi đang nắm chức Tri châu Quế Châu chuẩn bị quân đội sang đánh Đại Việt. Về sau Trầm Khởi mắc tội nên bị bãi chức, Lưu Di được cử thay thế, cho quân đóng thêm chiến thuyền để tiến quân bằng đường thủy. Cùng lúc đó, nhà Tống ra lệnh cấm các châu huyện mua bán hoặc trao đổi hàng hóa với Đại Việt. Vua Lý Nhân Tôn gửi kháng thư sang nhà Tống thì bị Lưu Di ém nhẹm.
Nghe tin nhà Tống có ý đồ xâm lấn Đại Việt, đức Lý Thường Kiệt tâu với vua Lý Nhân Tông rằng: “Ngồi chờ quân địch đến, chi bằng ta đánh trước.”
Vua chuẩn tấu, giao cho Lý Thường Kiệt thống lãnh 10 vạn quân đánh phủ đầu quân Tống ngay trên đất Tàu. Đích thân đức Lý Thường Kiệt chỉ huy đánh vào châu Khâm với châu Liêm, và giao cho Tôn Đản trách nhiệm tấn công châu Ung.
Trong 3 châu thì châu Ung ở cách xa biên giới Đại Việt, có thành trì kiên cố, quân số đông đảo, lương thực dồi dào và vũ khí đầy đủ. Theo đức Lý Thường Kiệt, nếu không chiếm được châu Ung thì rất dễ bị sa lầy ở đất Tống, tình hình sẽ chuyển biến theo chiều hướng bất lợi cho quân Đại Việt. Thế nhưng dũng tướng Tôn Đản đã xuất sắc nhiệm vụ của mình, xứng đáng với sự tin cậy ủy thác của chủ tướng Lý Thường Kiệt và quân dân Đại Việt lúc bấy giờ.
Vào ngày 30/12/1075, quân Đại Việt chiếm được Khâm Châu. Ngày 2/1/1076, quân Đại Việt tràn vào Liêm Châu. Một tháng sau đó, vào ngày 1/3/1076, quân Đại Việt dưới sự thống lãnh của Tôn Đản đã chiếm được Ung Châu. Thái thú Tô Giám chống cự được 40 ngày thì thua trận, cảm thấy nhục nhã nên phát cuồng, giết chết 36 thành viên trong gia đình rồi tự tử.
Quan Đô giám của Quảng Tây là Trương Thủ Tiết nghe tin, vội đem quân đến cứu viện nhưng bị đoàn quân của đức Lý Thường Kiệt chận đánh ở cửa ải Côn Luân, Trương Thủ Tiết bị chém chết tại trận. Khoảng 8 ngàn quân Tống tử trận, hàng chục ngàn tù binh ở 3 châu bị áp giải về Đại Việt.
Sau thắng lợi này, đức Lý Thường Kiệt được phong làm Nguyên soái Phục quốc Thái úy và Tôn Đản được thăng chức Trung Lang tướng quân. Về sau, Tôn Đản được phong chức Ngự tiền Đô thống lãnh tại kinh thành Thăng Long.
Hai năm sau đó, nhà Tống lại mang đại quân sang đánh Đại Việt để trả thù vụ tấn công phủ đầu, đốt phá quân lương và san bằng thành trì ba châu Khâm, Liêm, Ung của quân Đại Việt. Dưới sự chuẩn bị của đức Lý Thường Kiệt và các danh tướng như Tôn Đản, quân dân Đại Việt đã lập phòng tuyến trên sông Như Nguyệt để giao chiến với quân Tống suốt mấy năm liền. Giặc Tống bị tổn thất nặng, kể cả cái gọi là “108 anh hùng Lương Sơn Bạc” được triều đình nhà Tống chiêu hàng, cũng chôn vùi tính mạng ở phòng tuyến Như Nguyệt và sau đó phải rút lui về nước.
Chính trong trận chiến giữ nước hào hùng nói trên, bài cổ thi “Nam Quốc Sơn Hà” với 4 câu thơ mà đức Lý Thường Kiệt cho phổ biến mỗi đêm, đã khích động lòng quân, lòng dân quyết một lòng tử chiến với giặc Tống, và trở thành một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.
Có nghĩa là:
Sông núi nước Nam, vua Nam trị vì,
Hiển nhiên Thiên định hẳn không lầm.
Giặc bây trái mệnh đòi xâm chiếm,
Thảm bại trông kìa, hỡi lũ tham.
* * *
Trong lịch sử nước Việt, cuộc tấn công đánh phủ đầu quân Tống do đức Lý Thường Kiệt chỉ huy có lẽ là cuộc tiến đánh duy nhất vào nước Tàu của triều đình Đại Việt tính từ cuộc khởi nghĩa đánh chiếm 64 thành trì của Hai Bà Trưng. Sở dĩ gọi là duy nhất là vì sau này có Nùng Trí Cao, một tù trưởng ở phía Tây Bắc, cũng khởi nghĩa và không chỉ quậy phá Đại Việt mà còn tấn chiếm nhiều châu huyện của nhà Tống.
Lịch sử không ghi rõ Nùng Trí Cao có liên hệ huyết thống hay không với danh tướng Tôn Đản, tức Nùng Tôn Đản, người đã không phụ lòng tin cậy của đức Lý Thường Kiệt khi chỉ huy cánh quân tiến đánh châu Ung và đã chiến thắng một cách oanh liệt. Tuy nhiên cái tên Tôn Đản được lịch sử Việt nhắc đến, chứng tỏ là từ một ngàn năm trước, triều đình nhà Lý rất thành công trong việc chiêu hiền đãi sĩ, đối xử tử tế với các dân tộc thiểu số, thậm chí là còn gả nhiều công chúa cho các tù trưởng ở miền Tây Bắc.
Và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến quyết định vô cùng sáng suốt của đức Lý Thường Kiệt là thay vì ngồi chờ quân Tống tràn sang tàn phá nước Việt thì cách phòng thủ tốt nhất là tấn công địch ngay trên đất địch. Quyết định này đã khiến cho nước Việt có thêm một danh tướng sáng chói trong lịch sử: Trung lang tướng Tôn Đản.

You May Also Like