Đất Nước Đứng Lên: CSVN có thành công với ‘công đoàn độc lập cuội’?

Thưa quý thính giả, với cuộc cách mạng tin học và sự hiểu biết nới rộng của giới công nhân, giai đoạn công đoàn lao động cuội làm tay sai cho đảng CSVN đã cáo chung, kéo theo sự diệt vong tất nhiên của đảng. Qua chuyên mục Đất Nước Đứng Lên, mời quý thính giả đài ĐLSN nghe bài viết của Phạm Chí Dũng, nhan đề: CSVN có thành công với ‘công đoàn độc lập cuội’? sẽ được Khánh Ngọc trình bày để tiếp nối chương trình.

CSVN có thành công với ‘công đoàn độc lập cuội’?
Phạm Chí Dũng
Một thực tế không thể phủ nhận: chính quyền và công an đã chưa từng thành công trong việc “quốc doanh hóa xã hội dân sự” kể từ khi phong trào các tổ chức xã hội dân sự ào ạt ra đời từ năm 2013 đến nay.
“Công đoàn độc lập cuội” sẽ được đạo diễn như thế nào?
Một “biến cố” đã xảy đến với chính quyền Việt Nam khi để được tham gia vào CPTPP (Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương), đã lần đầu tiên phải chấp nhận định chế Công Đoàn Độc Lập như một trong những điều kiện then chốt của CPTPP. Biến cố này đang và sẽ áp đặt một trong những “cánh tay nối dài của đảng” là Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam vào cái thế lần đầu tiên trong lịch sử phải từ bỏ vai trò độc quyền “quản lý người lao động” để phải tìm cách cạnh tranh một cách minh bạch và sòng phẳng với các nghiệp đoàn lao động độc lập do công nhân lập ra.
Hầu như không hoài nghi rằng chiến thuật ưa thích nhất của chính quyền Việt Nam trong ít ra vài năm tới vẫn là vừa kiềm chế những người bảo vệ quyền lợi công nhân, vừa bưng bít thông tin đến mức tối đa về công đoàn độc lập, vừa kéo dài lâu đến mức có thể việc luật hóa CPTPP về công đoàn độc lập, vừa tung ra chiến dịch “công đoàn độc lập cuội.”
Một cách đương nhiên, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam đang và sẽ được đảng lựa chọn để tổ chức chiến dịch “công đoàn độc lập cuội.” Đó cũng là lý do để tổ chức công đoàn nhà nước này tìm cách tồn tại để vẫn được uống bầu sữa ngân sách và duy trì quyền lực “tổ chức chính trị xã hội” của mình,” trong thời buổi chế độ độc trị phải “dân chủ hóa.”
Một trong những kịch bản được đảng tâm đắc là “Quốc Doanh Hóa Công Đoàn Độc Lập”: tập dượt càng sớm càng tốt cho các công đoàn quốc doanh “chủ động tổ chức đình công” cho công nhân và hy vọng qua đó sẽ thu hút được số đông công nhân, thay vì để cho công nhân rơi vào tầm ảnh hưởng của những tổ chức công đoàn độc lập hoàn toàn không chịu sự lãnh đạo của đảng và nhà nước.
Nói trắng ra là “đình công cuội,” như lịch sử đương đại của đảng đã một số lần tổ chức “biểu tình cuội.”
Vậy Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam đã làm gì cho công nhân? Và nó có thành công với “công đoàn độc lập cuội?”
Cùng với Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, Hội Nông Dân Việt Nam, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam nằm trong số 6 “cánh tay nối dài của đảng” bị xem là bám chặt đời sống ký sinh, mỗi năm tiêu xài đến 14,000 tỷ đồng tiền ngân sách – tức tiền mà người dân phải è cổ đóng thuế.
Nhưng ngoài tiền cấp từ ngân sách, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam còn một nguồn thu rất màu mỡ khác.
Trong rất nhiều năm qua, bằng một quy định tài chính tự đặt ra, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam – tổ chức được xem là “cánh tay nối dài của đảng” – đã nghiễm nhiên phè phỡn hưởng thụ ít nhất 3% trên tổng quỹ lương doanh nghiệp (gồm 2% do doanh nghiệp phải “đóng góp” và 1% từ thu nhập của người lao động).
Thu tiền và xài tiền phủ phê đến thế, nhưng Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam lại chưa bao giờ đồng thuận, càng không hề lãnh đạo, tổ chức bất kỳ vụ đình công nào với bất kỳ yêu cầu biểu thị chính đáng nào của công nhân trong gần 1,000 cuộc đình công tự phát hàng năm.
Rốt cuộc, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam đã chỉ hiện hình như một cơ chế trung gian “ăn” 3% và quá vô tích sự, nếu không nói là đã “phản động” đến mức đi ngược lại quyền lợi của hàng chục triệu công nhân.
Một thực tế không thể phủ nhận được: chính quyền và công an đã chưa từng thành công trong việc “quốc doanh hóa xã hội dân sự” kể từ khi phong trào các tổ chức xã hội dân sự ào ạt ra đời từ năm 2013 đến nay. Thậm chí trên phương diện “nghiệp vụ an ninh,” công an cũng chưa từng có thành công đáng kể nào trong việc “cài” người hay xâm nhập vào các tổ chức xã hội dân sự, mà bằng chứng rõ nhất là cho đến nay hầu hết các tổ chức này vẫn duy trì được tôn chỉ và hành động ban đầu của mình mà không bị “tự diễn biến” hay “tự suy thoái” – theo cách nói kinh viện ưa thích của đảng cầm quyền.
Giờ đây, trình độ và nhận thực của giai tầng công nhân Việt Nam đã vượt cao hẳn so với nhiều năm trước, công nhân không còn dễ bị Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam và giới tuyên giáo đảng mị dân phỉnh dụ. Trong bất cứ một cuộc đình công hoặc chuẩn bị đình công nào, chỉ cần nghe “hơi” từ miệng những người đứng đầu phong trào, công nhân có thể dễ dàng phân biệt được ai là người của họ, còn kẻ nào là “cuội” do công an và công đoàn nhà nước “cài” vào. Lẽ dĩ nhiên, một kẻ nội gián hay tổ chức “công đoàn độc lập cuội” không thể có lối nói bảo vệ tuyệt đối quyền lợi của người lao động trong khi phải phản bác thẳng thừng những chính sách bất công và bất cập của chính quyền.
Đó chính là những cơ sở then chốt để có thể đặt niềm tin vào giai cấp công nhân Việt Nam – những con người đã được nâng cao hơn hẳn mặt bằng dân trí và nhận thức chính trị lẫn nhân quyền, những người sẽ biết cách tự tạo ra cho mình mô hình nghiệp đoàn độc lập để đấu tranh với giới chủ và với cả những chính sách bất công của chính quyền.
Và niềm tin vào xác suất thành công cao hơn cho các tổ chức công đoàn độc lập thực chất trong tương lai.
Vai trò và số phận phải tiêu vong của Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam cũng bởi thế hầu như là một tương lai không còn hoài nghi, cho dù trong thời gian tới tổ chức này có tính kế “ve sầu thoát xác” nhằm vớt vát một chút niềm tin của công nhân để kéo dài chút này hay chút ấy tuổi thọ tàn tạ của nó.

You May Also Like

Leave a Reply