TRẦN VĂN LƯƠNG THỀ KHÔNG VỀ NƠI ẤY


Dân Việt bỏ nuớc ra đi tìm tự do từ năm 1975, nhưng mỗi người đi đều ấp ủ mộng trở về, tiêu biểu như Nguyệt Ánh,Việt Dũng, Nam Lộc, Anh Bằng, Trúc Phương…
Câu hỏi căn bản là làm sao trở về và trở về thế nào? Có nguời quyết tâm mở lối về giải phóng quê hương bằng con đường quân sự như Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn. Có người đã trở về thăm quê hương và người thân, tìm lại những kỷ niệm thời thanh xuân. Đáng buồn thay! Có người trở về hợp tác với cộng sản, rồi lên tiếng nhục mạ người Việt chống cộng như Nguyễn Cao Kỳ. Thậm chí, có người trở về để khoe khoang hưởng thụ trên máu xương của đồng bào. Riêng Trần Văn Lương, người chiến sĩ cộng hòa thề quyết sẽ không trở về, ngay cả khi đã trở thành nắm tro tàn, nếu cộng sản còn ngự trị trên quê hương thân yêu.
Trước hết,Trần Văn Lương đã cảm thấy mỉa mai đến nôn mửa, khi phải chứng kiến cảnh “áo gấm về làng” của một số người Việt đã từng bỏ nước ra đi chạy trốn cộng sản, nay muốn trở về như thể “ ta đây” để tìm thú vui trên bàn nhậu, trên cả thân xácnhững cô gái ngây thơ , quên bẵng mất căn cước tỵ nạn cộng sản của mình:
Quên căn cước thuyền nhân tỵ nạn,
Hùa kéo bè kết đảng lang thang,
Nhởn nhơ áo gấm về làng,
Vung tiền trợ cấp vênh vang lòe đời.
Bọn người vô tâm này đã biến thể thành những tên hề diễn tuồng, cố tình ve vãn chiêu dụ các em nai tơ, nhưng càng trau chuốt càng lố bịch:
Trau chuốt mảnh hình hài khú đế,
Chưng diện đồ như thể diễn viên,
Nhướng mày nhíu mắt làm duyên,
Nói cười tựa gã thiếu niên phát cuồng.
Phẫn uất trước thái độ vô tâm của bọn người đã phản bội chính mình, xé bỏ căn cước tỵ nạn của mình, Trần Văn Luơng đã xác quyết laị lời thề khi rời nước:
Tháng Tư đó, quê hương mình tan nát,
Bao nhiêu người gạt nước mắt ra đi.
Lòng dặn lòng, trong giây phút phân ly,
Còn giặc Cộng, quyết thề không trở lại.
Lời thề cũng là lời khấn nguyện, vì Trần Văn Lương nhất quyết không phản bội quê hương, kể cả khi đã nhắm mắt lìa đời:
Lời khấn nguyện, Bố hằng ghi nhớ mãi,
Và dẫu lòng luôn khắc khoải xót xa,
Bố quyết tâm không phản bội quê nhà,
Dù khi đã hóa ra người thiên cổ.
Thề không trở về, bởi lẽ Việt Nam hôm nay đang bị bọn qủy đỏ giày xéo. Cộng sản chỉ là lũ lang sói,ác với dân, hèn với giặc, khiếp nhược cúi đầu khom lưng làm nô lệ ngoại bang:
Về sao được khi quê cha đất tổ,
Còn trong tay đám hổ báo sài lang
Đang đê hèn làm nô lệ ngoại bang,
Nhưng độc ác hung tàn cùng dân Việt.
Duới ách cai trị độc ác của lũ mán rừng, xã hội Việt một thời là hòn ngọc Viễn Đông, nay trở thành vũng lầy băng hoại, hang trộm cướp, mất văn hóa và phi nhân bản:
Xã hội đã suy đồi từ gốc rễ,
Già lưu manh, đến trẻ cũng lưu manh,
Người với nhau chỉ lừa đảo tranh giành,
Cả đất nước biến thành hang trộm cướp.
Độc ác với người sống, cộng sản còn bất nhân với người chết. Mộ phần các chiến sĩ cộng hòa tưởng đã nghỉ yên, nay lại bị cộng sản cày xới chỉ để cướp đất xây lâu đài đao phủ:
Nhìn khắp nơi tội ác vẫn ngập trời,
Ai là kẻ không bồi hồi phẫn chí.
Làm sao mà an nghỉ,
Khi mộ phần bao chiến sĩ miền Nam
Bị bọn cầm quyền độc ác gian tham,
Muốn cướp đất, đã san thành bình địa.
Nói chung, Việt Nam nay không còn, đúng như Việt Khang đã kêu lên ,làm cho Trần Văn Lương cảm thấy tuyệt vọng trước chủ truơng nuốt sống Việt Nam của người cộng sản đàn anh, nhân danh 4 Tốt và 16 Chữ Vàng:
Làm sao không tuyệt vọng,
Khi chung quanh tràn ngập bóng quân thù,
Ngoan ngoãn tuân theo lệnh của Tàu phù,
Hung hăng gác căn nhà tù vĩ đại.
Người sống quặn đau, mà nguời chết cũng phải than khóc dưới mộ sâu hoang lạnh:
Làm sao không tê tái,
Khi dân mình cứ mãi gánh khổ đau.
Và dù cho ở tận đáy mộ sâu,
Người chết cũng phải gục đầu than khóc
Trần văn Lương còn mượn lời trăn trối của cá trước khi nhắm mắt tức tưởi vì bị đầu độc tại Vũng Án, để thay người nói lên bản cáo trạng về tội ác của ngoại bang cũng như thái độ khiếp nhược của nhà cầm quyền Hà Nội :
Lòng xốn xang bối rối,
Lời trăn trối thương đau.
Người lẳng lặng gục đầu,
Chua xót thấm từng câu từng chữ.
Người hận và cá cũng phẫn uất thay người. Có thể nói tất cả đều oán hận cộng sản và trời không dung, đất không tha:
Lòng chúng tôi quặn thắt,
Khi thấy giặc Bắc hoành hành,
Đem quê hương này phá nát tanh banh,
Xem tính mệnh dân lành như cỏ rác.
Tôi không những oán lũ Tàu độc ác,
Lũ sài lang vốn khát máu tanh lòng,
Làm người, không ai ghét bỏ quê hương, nhất là dân Việt vốn được coilà trăm con một mẹ. luôn luôn ao ước trở về sát cánh với trên 90 triệu đồng bào trong nước. Nhưng giờ đây, quê hương đã bị cộng sản cướp mất, thì phải đành lòng tránh xa. Chỉ khi nào cộng sản cuốn gói ra đi, trả lại quê hương cho dân tộc Việt Nam thì TrầnVăn Lương mới cùng dân Việt trở về trong vinh quang, cố kết với nhau trong bọc mẹ yêu thương:
Chỉ đem Bố trở về khi dân tộc
Có nhân quyền và độc lập tự do,
Người người đều được áo ấm cơm no,
Không còn bị loài Cộng nô thống trị.
Lời dặn của Trần Văn Lương cho con cháu cũng chính là lời di chúc cho hậu thế, vì không biết người chiến sĩ cộng hòa còn được may mắn theo đoàn người hồi hương hay không. Dù sao, di chúc của Trần Văn Lương thật đáng ghi tâm:
Con hãy nhớ những lời này thật kỹ:
Bao lâu bầy Cộng phỉ vẫn thong dong,
Gót chân Tàu còn giẫm nát non sông
Thì mình vẫn quyết một lòng son sắt.
Một lòng son sắt với tổ quốc, thì nhất quyết không chấp nhận cộng sản,. Có nhớ quê hương đến mấy cũng không về, không về..vì không thể đội trời chung với cộng sản.
NQS. HS và MN xin hẹm gặp lại quí thinh giả trong TCYN lần tới.

Ngô Quốc Sĩ

You May Also Like

Leave a Reply