TRẦN TUẤN KIỆT KHÚC TRƯỜNG BI CA QUÊ HƯƠNG


Trần Tuấn Kiệt sinh tại Sa Ðéc, do đó có bút hiệu là Sa Giang. Từ thời còn rất trẻ, vào thập niên 1950, thơ văn của ông đã xuất hiện nhiều trên báo chí. Ban đầu Trần Tuấn Kiệt nhờ Nhất Linh, Nguyễn Vỹ, Tam Ích giới thiệu viết báo. Năm 1955 ông đã cộng tác với báo Sinh lực của Đồng Tân, Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh, Phổ Thông của Nguyễn Vỹ, Vui Sống của Bình Nguyên Lộc, Sống của Chu Tử, Nghệ Thuật của Mai Thảo.
Vào khoảng thập niên 70, ông chủ trương nhà xuất bản Hồng Lĩnh với Mặc Tưởng, Phạm Quốc Bảo, Bùi Ngọc Tuấn. Năm 1971 ông được trao giải thưởng văn chương toàn quốc của tổng thống Việt Nam Cộng hòa với tập thơ “Lời gởi cho cây bông vải.”
Ngoài bút hiệu Sa Giang và tên thật Trần Tuấn Kiệt, ông còn dùng nhiều bút hiệu khác để viết sách võ thuật, tư tưởng, truyện thần thoại,truyện kiếm hiệp, chuyện dã sử tình cảm…
Sau năm 1975 Trần Tuấn Kiệt phảiđi tù cộng sản 10 năm.
Ông đã cho xuất bản nhiều tác phẩm đủ thể loại nhưThơ: Thơ Trần Tuấn Kiệt, Nai,Bài ca thế giới, Cổng gió,Mê cungMàu kỉ niệm,Niềm hoan lạc, Lời gửi cây bông vải. Truyện: Sa mạc lan dần, Tiếng đồng nội. Biên khảo:Thi ca Việt Nam hiện đại
Cũng thuộc nòi tình, Trần Tuấn Kiệt đã trải vào thơ những lời tình tha thiết với hương thơm của thân xác ngà ngọc, với nhịp đập của con tim nồng cháy:
Anh còn giữ mùi hương lan dạ thảo
Mùi hạnh nhân kỳ ảo tấm thân em
Lời em gọi tiếng thì thầm nhật nguyệt
Lửa yêu thương huyền hỏa đọng buồng tim
Giây phút đó cận kề nhau mãi mãi
Nguồn ái ân hoa trái rụng bên thềm
Đâu đấy có giọng chim hồng bay lại
Tiếng sáo chiều vi vút thoảng yêu đương
Cái đẹp của tình yêu ở đây, là có một chút gì dòn mỏng, một chút ngăn cách vừa đủ để khóc, để gợi sầu thương và mơ mộng kết tinh thành hoa đời:
Em hãy khóc để lá vàng rơi rụng
Chuỗi sầu mơ kết lại trái hoa đời
Mai trần thế phai mờ như chiếc bóng
Ta và em dựng lại chút tình người.
Yêu em tha thiết, Trần Tuấn Kiệt cũng dành cho quê hương một nỗi nhớ khôn nguôi. Sống xa nhàông vẫn luôn luôn gắn bó với quêmẹ dấu yêu:
Lưng gầy lạnh gió đầu thu
Tóc bay theo khói sương mù bãi xanh
Cồn tiên sóng lớp vây quanh
Năm mươi năm đã dấu hình mẹ xưa
Nhớ quê mẹ đẹp, thì hẳn nhiên phải thương quê mẹ điêu tàn do chiến tranh tàn phá. Với nỗi lòng quặn thắt, nhà thơđành cúi mặt khóc thầm cho quê hương khổđau:
Thanh bình khúc hát vu vơ
Đêm nay nhớ mẹ bên bờ lau không
Cồn tiên bóng hạc lượn vòng
Sầu riêng cúi mặt đôi giòng lệ sa
Khóc thầm là phải, vì quê hương ngập tràn khói lửa, máu đổ xương rơi, như khúc bi ca nỗi buồn Việt Nam, làm môi lưỡi têđiếng như ngậm bồ hòn:
Quê hương thưa nhạt sắc hồng
Ráng chiều in đỏ trăm vùng máu xương
Biển chiều tha thiết vong hồn
Rét tê đầu lưỡi khúc trường bi ca
Mai em uống nước giang hà
Giòng sông biền biệt chảy qua linh hồn
Đắng cay trăm quả bồ hòn
Em ơi hãy nhớ nỗi buồn Việt Nam
Tuy quê hương còn đó, nhưng dân Việt đã thật sự mất quê hương.Người lưu lạc xứ người. Kẻ ở lại bị lưu đày trên chính quê hương mình! Trăm con Việt như cánh chim lạc mẹ, luôn luôn nhớ về tổ ấm kêu than như tiếng quốc văng vẳng:
Vẫn ngày tháng trăng sao ngàn cánh gọi
Vẫn muôn trùng chim nhớ tổ kêu vang
Vẫn từng ấy buổi chiều xanh tựa ngọc
Mộng êm đềm kiều diễm bủa vây em
Tiếng quốc ảo não nhưng không tuyệt vọng. Nhà thơ vẫn chờ vẫn đợi ngày quê hương trở lại tươi thắm như người xưa ngồi thả câu đợi thời:
Anh vẫn cứ ngồi bên bờ sông vắng
Vẫn nghe rì rào tơ liễu phất phơ
Vẫn nhìn ngó dưới lòng sông mây trắng
Nỗi bên trời trong trẻo mắt em thơ
Rồi trong nỗi chờ mong thao thức, nhà thơ đã khoác áo Kinh Kha mài kiếm dưới trăng chờ ngày tiếng trống thúc quân vang dậy, sẽ hiên ngang lên đường diệt thù:
Mộng vàng ai thếp màu son nhạt
kiếm khách mài gươm dưới nguyệt tàn
ta về trễ quá muôn năm trước
trống đồn bi ký cõi nhân gian
Mài kiếm dưới trăng, tác giả đã bước vào ảo giác, nhìn thấy bóng dáng người xưa trở về, chập chờn với chiêng trống dậy thành, ngựa hí vang trời:
Ấy ai cưỡi ngựa chơi vườn cũ
khua trống chiêng xưa bóng chập chờn
kìa xem trăng mộng thành thiên cổ
hoa lá vin cành điệp dưới thôn
Đẹp thay! Chen lẫn với bóng người xưa, còn có bóng em dịu dàng đưa tay hái trái trong vườn, như dáng thơ bên giàn thiên lý:
Em còn hái trái bên cây
Vết son mùa để dấu hài đầu tiên
Loi choi bước nhảy chân chim
Gió tan mây tụ đảo điên hồn người
Thế làđãcó em về, ươm hoa vàng trái mộng trên quê hương thắm tuơi huy hoàng:
Vườn chim trái mộng hoa vàng
Nửa đêm trăng cũng huy hoàng bên em
Từ tình yêu và quê hương, Trần Tuấn Kiệt đã bước qua ngưỡng cửa nhân sinh để cảm nghiệmý nghĩa cuộc đời như cõi sa mạc hoang vu, bốn bề lạnh vắng:
Em đi chân bước lạc đà
Suốt miền ải hạn giữa sa mạc người
Phượng hoàng xuống đậu hai vai
Ngậm hoa quỳ nhớ thiên thai không về
Ngàn năm mây trắng trôi đi
Với hồn xưa động bốn bề không gian
Trong cõi sa mạc hoang lạnh đó, đã ẩn hiện bóng dáng thần chết quadấu tích bia thành vách mộ
Xưa kia ta đến bên thành
Cỏ cây cũng nhớ thương mình ra hoa
Vầng trăng bến ngựa giang hà
Bia thành vách mộ lòng ta chợt buồn
Nói chung, cuộc đờichỉ là cõi sa mù, mà thế sựđổi thay huyễn hoặc như lá sầu rơi rụng trên bến hoang:
Biên cương gió bão sa mù
Nửa vầng trăng lạ ửng màu xanh cây
Rừng xưa thả lá theo ngày
Giòng tan tác đổ xuống hoài bến hoang
Gót nai đi giữa thu tàn
Sầu tơi tả rụng muôn vàn lông non
Để kết, xin biểu tỏ mối đồng cảm với Trần Tuấn Kiệt, cùng chia sớt nỗi nhớ quê hương và mối sầu nhân thế của nhà thơ mẫn cảm..
NQS, MN và HS in hẹn quí thinh giả trong TCYN lần tới

Ngô Quốc Sĩ

You May Also Like

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *