Nói Với Người CS, 08.10.2017


Thưa quí vị đảng viên cộng sản lâu năm cùng các bạn công an, bộ đội thân mến,

Hiện nay có một phong trào, các gia đình có tiền, đặc biệt là giới quan chức, đang tìm mọi cách để đưa con em ra nước ngoài du học để tránh các tiêu cực, tha hóa đang xảy ra trong giáo dục của Việt Nam hiện nay. Trước tình trạng này, rất nhiều người đã nhớ lại nền giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa.

Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu những nét lớn nhất của nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 tại miền Nam.

Thưa quí vị, quí bạn, các văn kiện của nhà nước và ngay trong bản Hiến pháp 1967 của Việt Nam Cộng Hòa, giáo dục đã được xác định phải tuân theo triết lí: Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng.

Thứ nhất: Giáo dục Việt Nam là giáo dục Nhân bản. Thuyết nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong đời sống trên thế gian. Chỉ có con người mới có văn hóa, có những hoạt động có suy tư, có sáng tạo, làm cho cuộc sống của con người tiến hóa. Triết lí nhân bản chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kì thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc, quan điểm chính trị,…

Thứ hai: Giáo dục Việt Nam là giáo dục Dân tộc. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh anh, những cổ tục tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc Việt Nam có tiếng nói riêng, có lịch sử riêng, có một nền văn hóa riêng từ nhiều đời cần phải được các thế hệ biết đến, được bảo tồn và phát huy, để không bị tan biến hay tiêu trầm trong những nền văn hóa khác.

Thứ ba: Giáo dục Việt Nam là giáo dục Khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, đóng kín. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học, kĩ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã hội, giúp xã hội tiến bộ theo cùng văn minh thế giới.

Với triết lí như thế, nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa tuyệt đối:

– Không xét lí lịch học trò, học viên. Trong suốt hai mươi năm miền Nam sống dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, con cái các chiến binh Việt cộng và thân nhân những người đã tập kết ra Bắc theo cộng sản đều được hưởng sự giáo dục như mọi người khác.

– Không cộng điểm, không ưu tiên cho gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình công thần chế độ.

Vì vậy giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã cho ra những nhân lực có chất lượng. Không có hiện tượng “Tiến sĩ, Giáo sư, Cử nhân, Thạc sĩ dỏm” tràn lan như hiện nay. Ngay như cháu gái của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm bị thi rớt vào Đại học Y Minh Đức (một trường tư thục) cũng được dư luận thời đó coi là chuyện thường tình.

– Không bắt học trò học thêm để làm tiền.

Ưu điểm này ngoài lí do nghành sư phạm của Việt Nam Cộng Hòa là một trong những nghành tuyển chọn khắt khe nhất về đạo đức và trí tuệ, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa còn đảm bảo cho giáo chức có lương thỏa đáng. Thời Cộng hòa đệ Nhất, nhà giáo ở tỉnh, chỉ với đồng lương, có thể thuê nhà, mướn người mà cuộc sống vẫn khá phong lưu. Ngoài ra, hệ thống các trường công đều miễn phí cho người học.

– Không cấm giáo sư, giáo viên, học trò đọc tài liệu ngoài luồng.

Vì coi trọng Khai phóng, giáo dục Việt Nam Cộng Hòa để cho giáo chức, học trò, học viên tự do mở mang tri thức, hiểu biết cho bản thân. Thời Việt Nam Cộng Hòa, giáo viên đứng lớp có thể tự do dùng tư liệu không có trong bất kỳ sách giáo khoa chính thức nào để giảng cho học trò… Thậm chí những tác giả là những người đang sống, làm việc tại Bắc Việt cộng sản vẫn được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy, như Nguyên Hồng, Tô Hoài, Trần Tiêu, Nguyễn Tuân, Nguyễn Lân, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,…

– Không tuân theo chỉ đạo của chính đảng, lãnh tụ chính trị, tổng thống.

Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa là giáo dục tự trị – không bị các lực lượng chính trị, kể cả đảng cầm quyền, hay chính quyền lãnh đạo, ép buộc, thao túng. Chương trình học ở các bậc Tiểu và Trung học do cấp Bộ ban hành chỉ có tính chất đề cương, các giáo sư, các cơ sở tư nhân có thể tự soạn và làm ra sách giáo khoa để giảng dạy. Riêng Đại học được quyền tự trị tuyệt đối, về học vụ mỗi trường đại học tự lo, không có chương trình học quy định và cũng không bị Bộ Quốc gia Giáo dục chi phối, chỉ đạo.

Với tinh thần Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng như thế, hệ thống giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã đào tạo được những tầng lớp trí thức có khả năng hội nhập và ganh đua với các quốc gia tân tiến, đã để lại nhiều chuyên gia, học giả có trình độ quốc tế trong nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, các học sinh của Việt Nam Cộng Hòa du học tại các nước tư bản đều có xu hướng trở về phục vụ đất nước.

Nếu để nhìn thấy sự tiến bộ vượt bực của giáo dục Việt Nam Cộng Hòa bằng một chứng minh thật ngắn gọn chúng ta có thể lấy ngay dẫn chứng: Lớp Đệ tứ (tương đương lớp 9 hiện nay) học sinh Việt Nam Cộng Hòa đã được học về Nhân quyền quốc tế và các quyền tự do cơ bản như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu tình và tự do lập hội.

Do vậy, nhiều người Việt hôm nay rất tiếc nuối Việt Nam Cộng Hòa cũng là một điều dễ hiểu.

Tâm Anh và Tiến Văn kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong chương trình tuần tới.

Tiến Văn

You May Also Like

Leave a Reply