Kinh Tế Tiến Khi Dân Được Tự Do


Ngày 1 Tháng 10 năm 2016, đồng nguyên của Trung Quốc sẽ được xếp hàng ngang với đồng Pound của Anh Quốc, đồng Yen của Nhật Bản, đồng euro Châu Âu và đồng đô la Mỹ được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế công nhận quyền “Special Drawing Rights” (SDR), sử dụng như một ngoại tệ dự trữ.

Chính quyền Cộng Sản Trung Quốc sẽ khoa trương với dân chúng trong lục địa về địa vị mới này, để người ta quên những khó khăn khi kinh tế đang giảm tốc độ tăng trưởng. Nhưng đối với các nước đang phát triển thì không nước nào muốn đi theo “mô hình kinh tế Trung Quốc” nữa, vì chính Bắc Kinh đang thấy cần cải tổ toàn diện, nếu không sẽ sa lầy trong hàng chục năm tới.

Chính thể dân chủ tự do tạo nhiều cơ hội cho kinh tế phát triển, các chế độ độc tài thì không. Ðược tự do, nhà kinh doanh dám chấp nhận đầu tư vào những dự án mới nhiều rủi ro, vì biết nếu thành công sẽ được hưởng các thành quả. Khi được tự do hơn, người lao động lập công đoàn tranh đấu cho quyền lợi của họ. Khi được đãi ngộ xứng đáng người ta sẽ làm việc hăng hái hơn. Chính trị tự do giúp kinh tế phát triển; điều này thấy hiển nhiên khi thế giới nhìn cả khối Liên Xô sụp đổ, chỉ vì chính trị độc tài đưa kinh tế tới thất bại.

Tuy vậy, vẫn có người nêu lên trường hợp hai nước Ấn Ðộ và Trung Hoa để kết luận rằng Trung Quốc hiện nay tiến nhanh hơn về kinh tế là nhờ họ theo chế độ độc tài, còn Ấn Ðộ vì dân chủ nên vẫn chưa đuổi kịp. Nếu không nghiên cứu kỹ lịch sử hai quốc gia này thì nhiều người sẽ mắc bẫy mà tin theo nhận xét sai lầm này. Hai nước Ấn Ðộ và Trung Quốc có lịch sử khác hẳn nhau, điều kiện văn hóa, xã hội, chủng tộc khác hẳn nhau từ gốc rễ, không thể đem so sánh được. Nếu muốn nhìn thấy ảnh hưởng của chính trị trên kinh tế, hãy so sánh Trung Quốc với Ðài Loan hoặc Nam Hàn và Nhật Bản ví các nước đó cùng gốc rễ văn hóa; và chỉ nên so sánh Ấn Ðộ với Pakistan vì cùng lập quốc một thời gian.

Giáo Sư Hoàng Á Sinh là tác giả cuốn “Kinh tế tư bản với đặc tính Trung Hoa, Capitalism with Chinese characteristics;” ông cũng so sánh kinh tế Trung Quốc với Ấn Ðộ. Ông là người Trung Quốc, sang Mỹ sau khi đã tốt nghiệp đại học, cho nên ông hiểu biết về nước Trung Hoa sâu xa hơn nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc.

Hoàng Á Sinh nêu lên một nhận xét mà hầu hết các người nghiên cứu về kinh tế thường không nhìn thấy, mà các du khách cũng như các nhà báo cũng không thể thấy. Kinh tế hai nước Trung Quốc và Ấn Ðộ đều có lúc lên lúc xuống, nhưng Hoàng Á Sinh nhận ra là những lúc thành công và những khi thất bại của cả hai nước đều bắt nguồn từ những nguyên nhân giống nhau. Ông nói rõ hơn: “Kinh tế hai nước đều phát triển cao hơn khi chế độ chính trị ở các nước này cởi mở tự do hơn. Ngược lại, kinh tế của họ bị trì trệ khi nhà nước theo chính sách độc đoán hơn.” Ðây là một nhận xét đáng tìm hiểu, để xóa đi những ảo tưởng và ngụy biện.

Ấn Ðộ mới trở thành một quốc gia năm 1947 (khác với Trung Quốc đã lập quốc từ thời Tần Thủy Hoàng, hơn 2000 năm trước). Sau khi độc lập, mặc dù theo chính thể dân chủ, chính phủ Ấn Ðộ đã chọn đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa, giống như Liên Xô. Tình trạng kinh tế càng trì trệ hơn khi chính quyền Ấn Ðộ áp dụng chính trị độc tài; mà hậu quả còn di hại cho tới ngày nay. Và từ khi, nhờ mấy lần thay đổi đảng cầm quyền, chính phủ nước này quay trở lại với đường lối dân chủ thì kinh tế mới bắt đầu khá.

Sau khi “triều đại Gandhi” bị gạt bỏ, chính phủ mới đã bắt đầu cải tổ theo kinh tế thị trường.

Các chính phủ mới đã đầu tư vào giáo dục và y tế, nhất là ở nông thôn, vì biết đó là chìa khóa mở cửa tương lai. Năm 2007, trong khi kinh tế dự phóng sẽ tăng 9%, chính phủ thuộc đảng Quốc Ðại đã tăng ngân sách giáo dục thêm 34% và ngân sách y tế tăng 22%. Trong khung cảnh đó, kinh tế Ấn Ðộ mới bắt đầu cất cánh. Hai năm trước đây đảng Quốc Ðại lại mất tín nhiệm và đảng Bharatiya Janata Party (BJP) trở lại cai trị nước Ấn Ðộ.

Giáo Sư Hoàng Á Sinh quan sát quá trình đổi mới ở Trung Quốc, ông thấy có hai giai đoạn khác nhau, chứng tỏ chính trị cởi mở giúp kinh tế hưng thịnh, vì người dân được tự do đã đầu tư nhiều hơn.

Thập niên 1980 là giai đoạn Trung Quốc phát triển sâu và rộng, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, nâng mức sống của hàng trăm triệu người lên cao.

Hoàng Á Sinh khẳng định lý do chính của sự phát triển trong thời gian này là nhờ những thay đổi trong không khí chính trị. Chính trị tự do hơn giúp kinh tế mạnh hơn. Ðặng Tiểu Bình lên, sau khi đã bị Mao Trạch Ðông đày đọa mấy lần, dân Trung Hoa nhìn thấy ông như một người dám đoạn tuyệt với các tư tưởng và chủ trương của Mao. Người dân Trung Hoa cảm thấy được cởi trói, họ chấp nhận đổi mới cơ cấu, làm việc hăng hái và dám thí nghiệm những lối làm việc mới. Giáo Sư Bùi Mẫn Hân, một người Trung Quốc khác, cũng nhận xét rằng hầu hết các thay đổi chính trị quan trọng ở Trung Quốc đã diễn ra trong thập niên 1980.

Biến cố Thiên An Môn năm 1989 đã khiến Bắc Kinh thay đổi. Ðảng Cộng Sản Trung Hoa bỏ rơi nông dân, xây dựng lớp trung lưu thành thị phần lớn là cán bộ đảng viên tập trung dưới sự bảo trợ của đảng.

Ðiều khiến hai nhà nghiên cứu người Trung Quốc là Hoàng Á Sinh và Bùi Mẫn Hân lo ngại nhất là từ thập niên 1990, đầu tư vào giáo dục và y tế ở Trung Quốc không tăng mà còn giảm. “Trong khi Thượng Hải xây thêm 3,000 nhà chọc trời thì trong dân chúng Trung Hoa tăng thêm 30 triệu người mù chữ!” Người tiêu thụ trước kia được hưởng gần 50% tổng sản lượng nội địa thì hiện nay chỉ được hưởng 33%, chỗ sai biệt đưa vào túi các cán bộ điều khiển các công ty.

Nước giầu hơn, nhưng dân nghèo đi, người nghèo kém xa người giầu hơn trước. Chỉ vì chế độ vẫn là độc tài đảng trị. Chính trị chắc chắn ảnh hưởng đến phần chia chiếc bánh kinh tế của tầng lớp dân nghèo!

Ngô Nhân Dụng

You May Also Like

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *