DANH NHÂN NƯỚC VIỆT 13.08.2016


Kính thưa quý thính giả, qua gần năm ngàn năm tranh đấu chống ngoại xâm để sinh tồn, phụ nữ Việt Nam đã đóng góp nhiều công lao trong việc bảo vệ tổ quốc.
Sử sách ghi lại, dân tộc Việt đã sản sinh ra rất nhiều bậc anh thư kiên cường, chiến đấu trong tinh thần bất khuất và không ít người trong số đó đã trở nên bất tử, với cái chết trung liệt được người đời sau kính trọng. Trong tiết mục “Danh Nhân Nước Việt” tuần này, chúng tôi xin gửi đến quý thính giả bài “Nữ Tướng Triệu Thị Trinh” của Việt Thái qua giọng đọc của Tam Thanh để kết thúc chương trình phát thanh tối hôm nay.
“Muốn coi lên núi mà coi,
Có Bà Triệu tướng, cưỡi voi đánh cồng”

Khi nói đến truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc Việt, chúng ta thể không nhắc đến Bà Triệu, một phụ nữ đã không ngại hiểm nguy, xông pha trận mạc chống giặc Ngô xâm lấn cõi bờ.
Sau Hai Bà Trưng, Bà Triệu cũng được sử Việt xem là một anh thư khả kính và đã in đậm trong tâm thức mỗi người Việt với lòng ngưỡng mộ và tự hào về nòi giống Lạc Hồng.
Bà Triệu tên là Triệu Thị Trinh, còn được gọi là Triệu Trinh Nương, sinh ngày 2 tháng 10 nǎm Bính Ngọ (226) tại huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình hào trưởng. Bà là người nhanh nhẹn, tính tình vui vẻ và có cơ trí và sức lực hơn người.
Khi quân Ngô xâm chiếm, gây ra bao cảnh đau thương cho dân Việt, dù khi đó chỉ mới 19 tuổi, bà Triệu đã bỏ nhà vào núi rừng xây dựng cǎn cứ địa, chiêu mộ nghĩa quân đánh đuổi giặc Ngô. Khi người anh trai nhắn gọi bà về nhà để lấy chồng, bà đã khẳng khái trả lời: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá Kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”.
Không thuyết phục được em gái từ bỏ cuộc đấu tranh gian khổ, người anh trai là Triệu Quốc Đạt đã gia nhập lực lượng và được tôn làm chủ tướng. Bà Triệu được binh sĩ gọi là Nhụy Kiều tướng quân, tức vị tướng xinh đẹp như nhụy hoa, vì khi ra trận Bà mặc áo giáp vàng, chít khǎn vàng, cưỡi voi một ngà.
Đoàn quân của Bà đi đến đâu cũng đều được dân chúng ủng hộ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con gia nhập vào đoàn quân của Bà ra trận đánh giặc. Quân Ngô nghe bài đồng dao càng khiếp sợ đoàn quân của Bà.
Sử gia Ngô Sĩ Liên ở thế kỷ 15 viết rằng:
“Bà Triệu là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của đức Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới”.
Từ hai căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, Bà và người anh dẫn quân đánh chiếm quận lỵ Tư Phố nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã. Đây là căn cứ quân sự lớn của quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân, đứng đầu là Tiết Kính Hàn. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động ở vùng đồng bằng của con sông này.
Sau khi xuống đồng bằng, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời. Các nghĩa binh tôn Bà Triệu làm chủ tướng.
Được tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh, Tôn Quyền liền phái tướng Lục Dận sang làm thứ sử Giao Châu, mang theo 8 ngàn quân để trấn áp cuộc khởi nghĩa. Vừa đến nơi, tướng Lục Dận liền dùng vàng bạc mua chuộc một số lãnh tụ địa phương để làm suy yếu và gây chia rẽ lực lượng nghĩa quân.
Theo cụ Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược, Bà Triệu chống quân Đông Ngô được 5 tháng thì thua trận và đã tuẫn tiết trên núi Tùng (thuộc tỉnh Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248). Lúc đó bà chỉ mới 23 tuổi. Từ đó nước Việt bị nhà Đông Ngô đô hộ cho đến năm 265.
Về sau, vua Lý Nam Đế khen Bà Triệu là người trung dũng và sai lập miếu thờ, phong là “Bật chính Anh liệt, Hùng tài Trinh nhất Phu nhân”. Bà Triệu còn được người đời tôn là Lệ Hải Bà Vương.
Hiện nay, nơi núi Tùng, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa vẫn còn di tích lăng mộ của Bà. Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 âm lịch, người dân trong vùng đều tổ chức lễ giỗ để ghi nhớ công đức của Bà. Ngoài ra, nhiều trường học và đường phố cũng được đặt tên Bà.
****
Sau hai Bà Trưng, Bà Triệu mặc dầu thua trận, nhưng cũng được xem là vị anh thư thứ ba nêu gương ái quốc cho dân tộc Việt.
Điều đáng hãnh diện hơn nữa là tấm lòng yêu nước thương dân của Hai Bà Trưng và Bà Triệu vẫn được lưu truyền suốt mấy ngàn năm qua. Bất cứ thời kỳ nào, những bậc anh thư kiệt xuất của đất nước VN cũng có. Chẳng hạn như nữ tướng Bùi Thị Xuân thời Tây Sơn, hay Cô Bắc, Cô Giang của Việt Nam Quốc Dân Đảng dưới thời chống Pháp. Và bây giờ dưới chế độ Cộng Sản độc tài, đảng trị thì hàng loạt phụ nữ cũng đã xuất hiện dấn thân tranh đấu, quyết đòi lại biển đảo, đòi nhân quyền, đòi lại môi trường sống cho đồng bào các tỉnh miền Trung.
Danh sách các phụ nữ này mỗi ngày một dài them, từ Lê Thị Công Nhân, Đỗ Thị Minh Hạnh, Tạ Phong Tần, Phạm Thanh Nghiên, Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.v.v. với những lời tuyên bố can trường chống lại bạo quyền Cộng Sản VN.
Rồi đây, sử Việt sẽ vinh danh họ và sẽ khắc ghi nỗi ô nhục của đảng Cộng Sản VN, những kẻ tự hào là “vì dân, do dân” nhưng lại đối xử tàn bạo với đồng bào mình hơn cả thực dân Pháp. Bạo quyền CSVN có thể bỏ tù những phụ nữ can trường đó, nhưng sẽ không sao dập tắt được ngọn lửa đấu tranh đã được họ thắp lên trong bóng tối âm u của hiện tình đất nước trước chủ trương và hành động “bá quyền” của Tàu Cộng trên Biển Đông.
Tương tự như Bà Triệu, họ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, đánh đuổi quân xâm lược, giành lại chủ quyền cho đất nước, họ muốn dẹp bỏ chế độ độc tài cộng sản chứ không chấp nhận cúi đầu làm nô lệ cho Đại Hán! Truyền thống bất khuất và tinh thần chống ngoại xâm của dân tộc Việt sẽ muôn đời bất diệt.
Việt Thái

You May Also Like

Leave a Reply